THỊ TRƯỜNG VÀ CHÍNH SÁCH TRIỂN KHAI NHỰA SINH HỌC

1.Thị trường thế giới và khu vực

Phân loại nhựa sinh học và các ứng dụng

Với sự ô nhiễm môi trường do vật liệu nhựa, đặc biệt là sản phẩm nhựa sử dụng một lần và sự nóng lên toàn cầu do phát thải CO2 đã thúc đẩy sự phát triển của ngành sản xuất nhựa sinh học. Nhiều tập đoàn lớn trong lĩnh vực sản xuất nước giải khát, thực phẩm, ô tô, viễn thông, chuỗi siêu thị đã đi tiên phong trong việc sử dụng nhựa sinh học. PepsiCo dự kiến giảm 35% nhựa nguyên sinh và dành khoảng ngân sách 1 tỷ USD cho tìm kiếm nguồn nguyên liệu thay thế. Chuỗi cửa hàng tiện lợi Seven-Eleven đã sử dụng màng nhựa sinh học sản xuất từ gạo, dự kiến khoảng 2,2 tỷ túi.

Một số quốc gia, khu vực đã và sẽ cấm việc sử dụng nhựa chỉ sử dụng một lần và khuyến khích việc sử dụng nhựa sinh học, tạo động lực cho sự phát triển ngành này, đặc biệt là tại châu Âu, Trung Quốc, Thái Lan và Brasil. Trung Quốc là nước sản xuất nhựa sinh học lớn nhất trên thế giới và việc tăng nhanh khả năng sản xuất này do chính sách cấm sử dụng đồ nhựa sử dụng một lần ở một số tỉnh thành lớn như: Thượng Hải, Hải Nam… Nhật Bản yêu cầu bắt buộc tái chế 100% nhựa nguyên sinh từ năm 2035 và thúc đẩy sử dụng nhựa sinh học, đồng thời bắt buộc nhà bán lẻ phải tính phí cho bao bì nhựa từ tháng 7/2020. Thái Lan có chính sách giảm thuế cho nhà bán lẻ và thức ăn nhanh khi dùng bao bì nhựa sinh học.

Mặc dù có nhiều thuận lợi trong việc ưu tiên sử dụng nhưng thị trường nhựa sinh học vẫn gặp một số khó khăn như:

  • Sự chậm trễ trong việc triển khai các chính sách bắt buộc về nhựa sinh học ở châu Âu;
  • Nhu cầu hạn chế ở một số thị trường quan trọng như tại Mỹ;
  • Nhu cầu về loại nhựa sinh học cụ thể có thể thay đổi. Ví dụ kế hoạch gia tăng công suất nhựa bio-PET đã không thể thực hiện được do sự dịch chuyển nhu cầu sang sử dụng nhựa sinh học mới là PEF sẽ thương mại hóa từ năm 2023, có khả năng phân hủy sinh học và có tính chất tương tự PET;
  • Chi phí sản xuất các loại nhựa sinh học nhìn chung cao hơn các loại nhựa truyền thống, vì vậy, khả năng phát triển và cạnh tranh trên thị trường không cao nếu không có các chính sách ưu tiên từ chính phủ của các quốc gia.

Những khó khăn trên bắt nguồn chính từ chi phí sản xuất cao so với nhựa nguyên sinh (khoảng 20 – 100%) và sự thiếu hụt cơ sở hạ tầng cho việc tái chế và xử lý nhựa sinh học. Do đó, việc phát triển thị trường nhựa sinh học cũng gặp nhiều khó khăn. Một số công ty nhựa sinh học đã ghi nhận thua lỗ hoặc thậm chí đóng cửa trong vài năm qua. Chính phủ một số nước cũng đã hạ thấp các mục tiêu đầy tham vọng cho ngành. Chính quyền quận Nanle của tỉnh Hải Nam (Trung Quốc) đã thay đổi kế hoạch tăng công suất PLA (được sản xuất tại quận từ năm 2014). Tuy nhiên, với sự quan tâm về môi trường ngày càng tăng và sự phát triển công nghệ, sản xuất nhựa sinh học vẫn là ngành công nghiệp được dự kiến phát triển mạnh trong tương lai [6 – 8]. Công suất sản xuất nhựa sinh học trên thế giới và tỷ trọng các loại nhựa được sử dụng thể hiện ở Hình 3 [9, 10].

Hình 3. Công suất nhựa sinh học trên thế giới. Nguồn: European Bioplastics, nova-Institute, 2019

Hình 3 cho thấy dự kiến tốc độ tăng trưởng nguồn cung trung bình của nhựa sinh học khoảng 3%, bằng với tốc độ tăng trưởng trung bình của ngành nhựa [11]. Năm 2018, với lượng sản xuất 2 triệu tấn trên tổng lượng nhựa sản xuất thế giới khoảng 360 triệu tấn cho thấy nhựa sinh học chiếm chưa đến 1%, đây là tỷ lệ rất thấp. Hình 4 trình bày tỷ lệ sản lượng các loại nhựa sinh học trên thế giới năm 2019.

Hình 4. Sản lượng sản xuất các loại nhựa sinh học trên thế giới năm 2019.  Nguồn: European Bioplastics, nova-Institute, 2019

Từ Hình 4, có thể thấy nhựa có khả năng phân hủy sinh học chiếm tỷ trọng cao trong tổng các loại nhựa sinh học. Theo đó, PLA (nhóm 2) và PBAT (nhóm 3) được sử dụng nhiều nhất (khoảng 13,5% mỗi loại) nhưng biobased như PE, PET, PA, PTT vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể (khoảng 10% mỗi loại).

Khi phân loại theo lĩnh vực sử dụng thì nhựa sinh học dùng làm bao bì (mềm và cứng) chiếm tỷ trọng cao nhất, tiếp đến là vải. Đáng chú ý trong lĩnh vực bao bì, ngoài nhựa truyền thống nhưng có nguồn gốc sinh học như bio-PET, bio-PE, bio-PA thì PBAT và PLA chiếm tỷ trọng tương đối lớn (tuy thấp hơn nhóm bio-PET, bio-PE, bioPA). Hình 5 trình bày tỷ lệ sản lượng các loại nhựa sinh học trên thế giới năm 2019 khi phân theo ứng dụng của nhựa.

Hình 5. Sản lượng sản xuất các loại nhựa sinh học trên thế giới năm 2019 phân theo ứng dụng.  Nguồn: European Bioplastics, nova-Institute, 2019

2.Thị trường Việt Nam

Tại thị trường Việt Nam, nhu cầu tiêu thụ nhựa sinh học hoặc bán sinh học (nhựa truyền thống có pha trộn với nhựa sinh học có khả năng phân hủy sinh học nhưng không phân hủy hoàn toàn và phân hủy chậm hơn nhựa sinh học nhóm 2 như PLA) chủ yếu từ các doanh nghiệp với mong muốn thể hiện trách nhiệm với xã hội qua việc sử dụng sản phẩm thân thiện môi trường. Các công ty sản xuất nước giải khát như Coca-Cola, PepsiCo đã sử dụng sản phẩm chai nhựa bio-PET và hệ thống siêu thị đã sử dụng túi nhựa có khả năng phân hủy sinh học.

Về nguồn cung cấp nguyên liệu để sản xuất sản phẩm nhựa sinh học, ngoại trừ tinh bột biến tính được sản xuất trong nước, các nguồn nguyên liệu khác đều nhập khẩu. Tại Việt Nam , Cty CP Thiên Kim An đã sản xuất thành công nhựa sinh học 100% không có thành phần nhưa thông thường, nhựa khó phân huỷ để cung cấp cho các nhà máy , sơ sở sản xuất bao bì trên toàn quốc, tương tự cũng đã có các cty nhà máy  sản xuất sản phẩm cuối từ nhựa sinh học có khả năng phân hủy 100% như: Cty CP Thiên Kim An, Anphat bioplastic, hoặc Bioplastic , nhựa có khả năng phân hủy sinh học (sử dụng kết hợp tinh bột và với nhưa thông thường như LDPE, LLDPE, HDPE, PP ) . Tuy nhiên, việc kinh doanh nhựa sinh học còn gặp khó khăn do Chính phủ chưa có chính sách cụ thể và lộ trình bắt buộc sử dụng sản phẩm thân thiện với môi trường. Hiện tại, chỉ có một số đơn vị bán lẻ là các siêu thị, chuỗi cửa hàng sử dụng bao bì có khả năng phân hủy sinh học. Một số yếu tố như giá bán cao, khoảng 50 – 100% so với loại nhựa truyền thống và một số đặc tính kỹ thuật (như độ trong, độ mềm dẻo) chưa so sánh được với các loại nhựa truyền thống đã cản trở khả năng thâm nhập thị trường của nhựa sinh học tại Việt Nam. Sản phẩm nhựa sinh học được sản xuất tại Việt Nam, bên cạnh tiêu thụ trong nước thì một phần cũng được xuất khẩu sang các nước có nhu cầu nhựa sinh học cao như châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc.

Nguồn: Tạp chí Dầu Khí

 

Mới các bạn đón xem tiếp phần tiếp theo: XU HƯỚNG SỬ DỤNG VÀ TIỀM NĂNG ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM trên mục tin tức của Thiên Kim An Corp tại Website: thienkiman.com

Mời các bạn truy cập vào trang Facebook Thiên Kim An Corp để biết thêm nhiều thông tin tại ĐÂY

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

.
.
.
.

0938 390 518