Thuế BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG của túi Nilong và những điều trăn trở

Hiện nay, thực tế, số tiền thu thuế BVMT từ túi nylon những năm qua là không đáng kể và giảm dần, trái lại, sản phẩm túi nylon vẫn được tiêu thụ rất nhiều , ngày càng nhiều với giá thành thấp.

Thuế bảo vệ môi trường hướng tới phát triển bền vững tại một số nước, còn Việt Nam hiện tại ra sao ?

 

Thuế BVMT

Những năm gần đây cụm từ “Ô NHIỄM TRẮNG ” được nhắc đến nhiều quốc gia trên thế giới. Đây là thuật ngữ được các nhà khoa học dùng để nói về việc ô nhiễm môi trường do lạm dụng túi nilong, nhựa khó phân huỷ. Nhận thức được tác hại của túi nhựa, nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng các biện pháp mạnh mẽ nhằm hạn chế việc sử dụng túi nhựa, như cấm sản xuất hoặc cấm nhập khẩu; tính thuế/phí cao để khuyến khích người dân sử dụng các loại túi thân thiện với môi trường.

Đối với túi ni lông: Túi ni lông được nhiều nước trên thế giới áp dụng mức thuế suất khá cao, thậm chí, một số nước còn cấm sản xuất, bán và sử dụng túi ni lông và chủ yếu đánh vào người tiêu dùng.

Tại Anh, mức thuế suất đối với túi vận chuyển bao gồm túi ni lông hoặc túi nhựa có tính chất sử dụng một lần và túi nhựa phân hủy sinh học là 5 penny/túi và áp dụng bắt buộc tại các cửa hàng lớn (nhà bán lẻ lớn) còn các cửa hàng có quy mô nhỏ và vừa có thể áp dụng theo cách tự nguyện (hiệu lực từ 05/10/2015).

Mỹ thực hiện cấm hoàn toàn sử dụng túi ni lông ở hầu hết các bang, riêng tại Bang California nếu khách hàng muốn sử dụng túi ni lông thì phải trả mức thuế tối thiểu là 10 cent/túi. Hồng Kông thực hiện thu 50 cent/túi (áp dụng từ 1/4/2015) còn Estonia thu thuế đối với túi ni lông ở mức 2 kroons/túi. Tại Malaysia, việc cấm hoàn toàn việc sử dụng túi ni lông (túi nhựa) đã được áp dụng ở một số khu vực (năm 2009 ở Penang, năm 2010 ở Selangor…).Một số nước khác còn cấm sản xuất, bán, sử dụng túi ni lông mỏng như ở Trung Quốc cấm sản xuất, bán, sử dụng túi ni lông có độ dày nhỏ hơn 0,025 mm từ tháng 1/2008; Ấn Độ cấm sử dụng túi nhựa mỏng dưới 50 micro từ năm 2000; ở Đài Loan cấm sử dụng túi nhựa mua sắm mỏng hơn 0,06 mm.

Ngoài việc thu thuế từ túi ni lông đối với người tiêu dùng, thuế BVMT cũng áp dụng đối với nhà sản xuất, nhập khẩu túi ni lông (túi nhựa).

Tại Việt Nam, theo thống kê, chỉ riêng hai thành phố lớn là Hà Nội và TP. HCM, trung bình một ngày thải ra môi trường khoảng 80 tấn nhựa và túi nylon, trong đó phần lớn là túi nylon khó phân hủy. Nếu trung bình 10% số lượng chất thải nhựa và túi nylon không được tái sử dụng mà thải bỏ, lượng chất thải nhựa và túi nylon thải bỏ ở Việt Nam sẽ xấp xỉ 2,5 triệu tấn/năm.

Và theo một công bố của Ocean Conservancy, Trung Quốc, Indonesia, Philippine, Thái Lan và Việt Nam chính là 5 quốc gia xả rác hàng đầu ra biển, đóng góp tới 60% lượng rác thải nhựa trong các vùng biển trên thế giới, và Việt Nam là quốc gia đứng thư 4 trong 5 nước này.

Từ những con số đáng báo động trên, rác thải túi ni long đang trở thành vấn đề đáng lo ngại ở Việt Nam. Ngay từ năm 2010, Nhà nước đã nhận thấy tầm quan trọng của việc đánh thuế môi trường đối với túi nylon. Bên cạnh việc tăng ngân sách quốc gia, đánh thuế môi trường đối với túi nylon là 1 trong những giải pháp nhằm hạn chế việc sản xuất và sử dụng túi nylon một cách tràn lan của người dân, do tính tiện lợi và giá thành rẻ.

Mức thuế BVMT đối với túi nylon trước đây  là 40.000 đồng/kg, tuy nhiên sau ngày 1/1/2019 là 50.000 đồng/kg. Thế nhưng trên thị trường hiện nay giá 1kg túi cũng chỉ khoảng 40.000 đồng/kg, thậm chí 25000-30000 đồng/kg. Trong khi giá nguyên liệu nhập khẩu trên dưới 30.000 đồng/kg

Thực tế, thời gian qua trong hệ thống một số siêu thị lớn đã sử dụng nhiều loại túi nhựa với nhãn mác” thân thiện với môi trường” , “tự huỷ sinh học “, hoặc với nhiều tên gọi mỹ miều khác nhau. Tương tự,  tại các chợ truyền thống, việc sử dụng túi nhựa siêu mỏng khó phân hủy, gây hại cho môi trường đặt biệt  còn phổ biến do thói quen của người dân. Mặc dù đã có nhiều cố gắng, tuy nhiên các cơ quan hữu quan chưa kiểm soát hữu hiệu việc thực hiện nộp thuế đối với các cơ sở nhỏ, siêu nhỏ sản xuất loại túi nhựa này hay các công ty , nhà máy , xí nghiệp lớn dán nhãn mác ” thân thiện môi trường “. Hoặc chưa có chế tài áp dụng xử lý các vi phạm mạnh mẽ.  Cũng như chưa có phân tích cụ thể về những tác hại của túi nilong, túi nhựa khó phân huỷ ảnh hưởng, tác động xấu như thế nào đối với môi trường cũng như sức khỏe người dân.

Đại diện Bộ Tài chính cũng thừa nhận việc theo dõi, quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh túi nylon rất khó khăn do cơ sở sản xuất túi nylon phần lớn (khoảng 70%) là cơ sở sản xuất nhỏ nộp thuế khoán, nên trên thực tế số thu thuế BVMT từ túi nylon những năm qua là không đáng kể và giảm dần, trong khi sản phẩm túi nylon vẫn được tiêu thụ rất nhiều với giá thành thấp và tính tiện ích của nó mang lại cho con người.

Kiến nghị về vấn đề này, theo Thời báo KTSG, bà Đỗ Hoàng Oanh, Sở Tài nguyên và Môi trường TP. HCM cho biết, hiện “Các cơ sở vẫn sản xuất mà không phải đóng Thuế BVMT theo quy định. Người dân vẫn tiếp tục sử dụng loại túi này do giá thành rẻ. Như vậy, song song với việc tăng cường thu thuế theo quy định, cần phải nâng cao nhận thức người tiêu dùng, để cùng chung tay hạn chế ô nhiễm môi trường do túi nhựa khó phân hủy gây ra”.

 

Đồng quan điểm trên, bà Nguyễn Thị Thanh Huyền, Viện chiến lược và Chính sách Tài chính đề nghị, cần có biện pháp để kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng túi nhựa từ khâu sản xuất đến tiêu dùng, thông qua các biện pháp hành chính và các biện pháp kinh tế. Việc xem xét điều chỉnh mức Thuế BVMT đối với túi nhựa theo hướng tăng mạnh, nhằm hạn chế sản xuất và sử dụng, đồng thời huy động nguồn thu vào ngân sách nhà nước, để chi cho các hoạt động bảo vệ và xử lý các sự cố môi trường.

Bên cạnh đó, có thể thấy rằng ngay việc đánh thuế bảo vệ môi trường với túi nilong có lỗ hổng ngay từ luật, cụ thể, theo báo Lao động, theo Luật Thuế bảo vệ môi trường ngày 15/11/2010, Nghị định số 69/2012/NĐ-CP ngày 14/9/2012 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày 8/8/2011 và Thông tư số 159/2012/TT-BTC ngày 28.9.2012 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 152/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 quy định: “Túi nylon thuộc diện chịu thuế là loại túi, bao bì nhựa mỏng có hình dạng túi được làm từ màng nhựa đơn HDPE, LDPE hoặc LLDPE, trừ bao bì đóng gói sẵn hàng hóa và túi nylon đáp ứng tiêu chí thân thiện với môi trường kể từ ngày được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận túi nylon thân thiện với môi trường theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường”.

Còn theo Nghị định số 69/2012/NĐ-CP cũng quy định trường hợp bao bì mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tự sản xuất hoặc nhập khẩu hoặc mua trực tiếp của người sản xuất/người nhập khẩu để đóng gói sản phẩm do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đó sản xuất, gia công hoặc mua sản phẩm về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói thì không phải chịu thuế. Điều này có thể hiểu rằng, nếu bao bì từ nhà sản xuất/nhập khẩu sử dụng đúng mục đích (người sử dụng cuối cùng) thì sẽ không phải chịu thuế. Nhà sản xuất/nhập khẩu chỉ cần có cam kết sử dụng đúng mục đích của khách hàng tiêu thụ bao bì thì xem như không phải chịu thuế.

 

Túi siêu thị , tự phân huỷ sinh học
Găng tay tự huỷ sinh học
Túi sinh học tự phân huỷ
Túi sinh học tự phân huỷ, sử dụng túi sinh học để bảo vệ môi trường 

Tuy nhiên, chúng ta cũng phải cần nhận thức và có phân tích, đánh giá đúng và đủ những tác hại của túi nilong khó phân huỷ, túi nilong được dán nhãn mác ” THÂN THIỆN MÔI TRƯỜNG “, “PHÂN HUỶ SINH HỌC “, … cũng như các loại túi bằng nhựa,  sử dụng 1 lần  có nguồn gốc từ sản phẩm hoá dầu khác như PP, PET, … và các ưu điểm của  bao bì sinh học có nguồn gốc từ tinh bột, hay các phế phẩm khác như vỏ trấu, tre, bã mía.  Sau đó, có các chính sách , chế tài phù hợp để định hướng phát triển ngành bao bì nhựa trong tương lại gần tại Việt Nam.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

.
.
.
.

0938 390 518