XU HƯỚNG SỬ DỤNG NHỰA SINH HỌC VÀ TIỀM NĂNG ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM – English

Tiếp nối với các phần trước:

THỊ TRƯỜNG VÀ CHÍNH SÁCH TRIỂN KHAI NHỰA SINH HỌC

THỊ TRƯỜNG VÀ CHÍNH SÁCH TRIỂN KHAI NHỰA SINH HỌC

PHÂN LOẠI NHỰA SINH HỌC VÀ CÁC ỨNG DỤNG

Phân loại nhựa sinh học và các ứng dụng

Chúng ta hãy tìm hiểu về xu hướng sử dụng và tiềm năng áp dụng nhựa sinh học tại Việt Nam với các nội dung dưới đây:

1.     Xu hướng

Trong 3 nhóm bioplastic (Bio-based; Bio-based và Biodegradable; Biodegradable), nhóm 2 sẽ được ưu tiên phát triển do vừa phân hủy sinh học vừa có nguồn gốc sinh học. Kết quả nghiên cứu sơ bộ về thị trường cho thấy PLA thuộc nhóm 2 được sử dụng nhiều nhất trong các loại bioplastic. PLA sẽ tiếp tục được khuyến khích trong tương lai. Điểm chính cần cải thiện của loại nhựa này là giảm chi phí sản xuất và nghiên cứu khả năng phối trộn với sản phẩm khác để cải thiện tính năng của nhựa. Trong nhóm 3, PBAT là loại nhựa chiếm tỷ trọng cao nhất và cao thứ nhì, chỉ sau PLA. Với đặc tính kỹ thuật tương tự LDPE, PBAT dự kiến vẫn là loại nhựa sinh học chiếm tỷ trọng cao và được khuyến khích sử dụng. Nhóm 1 là các loại nhựa tương tự như nhựa truyền thống nhưng nguyên liệu có nguồn gốc sinh học. Nhóm nhựa này tuy hiện nay vẫn sử dụng tương đối nhiều nhưng do đặc tính không phân hủy sinh học nên khó được thị trường, những người tiêu dùng cuối yêu môi trường chấp nhận. Tuy nhiên, việc khuyến khích và xúc tiến sử dụng sẽ được nhiều công ty, chính phủ có nền công nghiệp sản xuất bioethanol, biomass phát triển triển khai.

Một số nghiên cứu gần đây cho rằng PHA có tiềm năng phát triển trong tương lai, đặc biệt là khi sử dụng được nguồn vật liệu CO2 trong khí quyển và H2 sản xuất từ năng lượng tái tạo [12]. Quy trình sản xuất PHA từ khí thải nhà kính như Hình 6.

 

Hình 6. Quy trình sản xuất PHA từ khí thải nhà kính. Nguồn: Wyss Institute, 2020

 

2.     Đánh giá nhu cầu và tiềm năng áp dụng ở Việt Nam

Nhìn chung, ngành công nghiệp nhựa ở Việt Nam đang phát triển rất mạnh, sản phẩm cuối đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Lượng nhựa nguyên sinh sử dụng ở Việt Nam rất lớn, sản xuất nhiều sản phẩm đa dạng, từ dân dụng cho đến công nghiệp. Ước tính, với sản lượng tiêu thụ nhựa bình quân mỗi người là 63kg, tổng sản lượng nhựa tiêu thụ Việt Nam năm 2019 khoảng 6 triệu tấn trong đó chỉ khoảng 10% được tái chế [11, 13].

Trong các loại nhựa truyền thống tiêu thụ tại Việt Nam, thì PP, PE và PET chiếm tỷ trọng lớn nhất với lượng tiêu thụ năm 2019 lần lượt khoảng 2 triệu tấn, 1,7 triệu tấn và 150 nghìn tấn [14]. Sản phẩm sản xuất từ các loại nhựa này được sử dụng nhiều trong các ngành bao bì thực phẩm, dệt may và đồ uống (Hình 5). Trong cơ cấu sử dụng của ngành nhựa Việt Nam, nhựa bao bì chiếm tỷ trọng lớn nhất, lên đến 36%, khoảng 2,1 triệu tấn vào năm 2017 (Hình 7). Do đó, nếu có thể thay thế được một phần các loại nhựa này thì tiềm năng sử dụng nhựa sinh học tại Việt Nam tương đối lớn. Ước tính với tỷ lệ thay thế như của thế giới, khoảng 1%, thì tổng nhu cầu nhựa sinh học của Việt Nam sẽ khoảng 60 nghìn tấn mỗi năm. Sản lượng này là tương đối lớn và với tốc độ tăng trưởng nhu cầu nhựa hàng năm của Việt Nam khoảng 10,8%/ năm thì tiềm năng phát triển của nhựa sinh học Việt Nam vẫn đáng kể.

Hình 7. Cơ cấu tiêu thụ nhựa Việt Nam theo ngành.  Nguồn: VPA, FPT sercurities, 2019

3.     Đánh giá khả năng sản xuất bioplastic tại Việt Nam

Đối với loại nhựa nhóm 1, Việt Nam có thể xem xét khả năng sản xuất bio-PE, bio-PP từ nguồn nguyên liệu bio-ethylene, bio-propylene được sản xuất từ các nguồn nguyên liệu sinh khối như biomass, bioethanol trong nước. Việc sản xuất các sản phẩm bio-PE, bio-PP này dễ dàng thực hiện được tại phân xưởng sản xuất PP của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất hay của Liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn hoặc tại các dự án sản xuất PE (Liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn), PP (Nhà máy PP Hyosung) đang được đầu tư xây dựng. Do không có sự khác biệt về tính chất nguyên liệu nên việc sản xuất bio-PE, bio-PP hoàn toàn khả thi về mặt kỹ thuật. Tuy nhiên, dự kiến giá thành sản xuất nguyên liệu bio-ethylene và bio-propylene cao do hiện tại Việt Nam chưa phát triển nền công nghiệp này nên việc sản xuất sản phẩm bio-PE, bio-PP sẽ khó cạnh tranh so với sản phẩm bio-PE, bio-PP nhập khẩu. Ngoài ra, sản phẩm bio-PE, bio-PP dự kiến sẽ gặp trở ngại trong việc thâm nhập thị trường Việt Nam dưới danh nghĩa là bioplastic vì sản phẩm cuối không khác gì PE thông thường.

Đối với nhựa nhóm 2, PLA là một khả năng có thể được xem xét thông qua việc cải hoán các nhà máy sản xuất bioethanol hiện hữu tại công đoạn lên men để chuyển từ sản xuất bioethanol sang sản xuất PLA. Theo đó, các nhà máy này có thể sản xuất linh động đồng thời 2 loại sản phẩm (bioethanol và PLA) hoặc chỉ một loại sản phẩm (bioethanol hoặc PLA) tùy theo nhu cầu thị trường và hiệu quả mang lại cho nhà máy. Việt Nam là nước với đặc thù sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn nên có nhiều nguồn nguyên liệu sinh khối, gồm cả tinh bột để cung cấp nguồn nguyên liệu sinh học, vì vậy, sẽ có thuận lợi trong việc sản xuất bioplastic nhóm 2. Tuy nhiên, một số yếu tố như nền sản xuất còn nhỏ lẻ, thị trường nguyên liệu và sản phẩm phân tán và đặc biệt là gần 2 nước có nền công nghiệp nhựa sinh học đã phát triển khá lâu (Trung Quốc, Thái Lan), việc sản xuất nhựa sinh học nhóm 2 dự báo vẫn chưa có khả năng cạnh tranh với nhựa truyền thống và nguồn nhựa sinh học nhập khẩu. Các phân xưởng chế biến nhựa sinh học ở Việt Nam hiện hoạt động dưới hình thức phối trộn các nguyên vật liệu để sản xuất nhựa/sản phẩm nhựa có khả năng phân hủy sinh học.

Đối với nhựa nhóm 3, việc nghiên cứu và tìm kiếm sản phẩm để phát triển, thay thế nhựa truyền thống sẽ phù hợp với nhu cầu thị trường Việt Nam hơn. Trong nhóm này, PBAT, PBS là các loại nhựa nổi trội, sử dụng nhiều trong lĩnh vực bao bì và may mặc, do đó, có thể xem là những loại nhựa tiềm năng thay thế cho PE và PP. Ngoài ra, PEF cũng là loại sản phẩm có thể được chú trọng, xem xét nghiên cứu hoặc chuyển giao công nghệ vì có thể thay thế PET trong tương lai. Để có thể sản xuất các sản phẩm này tại Việt Nam, cần xem xét đánh giá xây dựng nhà máy mới hoàn toàn. Các nhà máy sản xuất nhựa hiện hữu (PE, PP) không thể cải hoán để sản xuất sản phẩm nhựa nhóm 3 này.

4.     Kết luận

Qua thu thập thông tin tổng quát và sơ bộ về thị trường, nhóm tác giả rút ra kết luận sau:

  • Mặc dù là sản phẩm thân thiện với môi trường nhưng việc sử dụng nhựa sinh học vẫn còn chiếm tỷ trọng thấp trong tổng sản lượng nhựa được sản xuất, chỉ dưới 1%. Tuy nhiên, do nhu cầu nhựa của Việt Nam tương đối lớn và đang tăng trưởng nên việc xem xét khả năng đầu tư sản xuất nhựa sinh học cần được quan tâm.
  • Nhóm nhựa sinh học tiềm năng phát triển nhất hiện nay là PLA và PBAT. Một số loại nhựa mới như PEF, PHA có thể được áp dụng rộng rãi hơn trong tương lai do tính ưu việt của sản phẩm so với nhựa truyền thống (PET) hoặc sản xuất từ nguồn nguyên liệu dư thừa và năng lượng tái tạo (PHA).
  • Các doanh nghiệp sản xuất nhựa Việt Nam có thể tham gia vào thị trường nhựa tương lai này nhưng sẽ gặp thách thức lớn do Việt Nam chưa bắt buộc việc sử dụng nhựa sinh học trong bao bì, sản phẩm nhựa dùng 1 lần; vị trí gần 2 quốc gia có công nghiệp nhựa sinh học phát triển là Trung Quốc và Thái Lan. PBAT, PBS, PEF bio-PE là loại nhựa Tập đoàn Dầu khí Việt Nam có thể xem xét nghiên cứu cơ hội đầu tư/hợp tác đầu tư.

Để hoàn thiện bức tranh về nhựa sinh học và khả năng áp dụng tại Việt Nam, các nghiên cứu chuyên sâu hơn về thị trường, công nghệ gồm cả nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu cơ hội đầu tư cần được thực hiện ở bước tiếp theo.

Nguồn: Tạp chí Dầu Khí

 

Mời các bạn truy cập Facebook Thiên Kim An hoặc bấm tại ĐÂY để biết thêm nhiều thông tin hơn nhé!

Leave a Reply

Your email address will not be published.

.
.
.
.

0938 390 518